Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên dạy học tỉnh Ninh Thuận.
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy đăng ký thành viên tại đây hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Bùi Quang Dũng - Vị tướng "Minh triết Phu tử" của vua Lý Thái Tổ (I)

Nguồn: Nguyễn Hùng ST
Người gửi: Nguyễn Hùng (trang riêng)
Ngày gửi: 15h:04' 09-08-2010
Dung lượng: 37.0 KB
Số lượt tải: 0
Mô tả:
(Tamnhin.net)- Để kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, Tamnhin.net xin gửi tới độc giả loạt bài viết hướng tới sự kiện trọng đại này. Bắt đầu cho loạt bài với sự cộng tác của một số nhà sử học uy tín, chúng tôi xin giới thiệu về câu chuyện xung quanh vị tướng của hai triều vua- Tướng Bùi Quang Dũng.
![]() |
| Cuốn gia phả đời 35 dòng họ Bùi lưu giữ lại, viết thời Khải Định có dấu đỏ của Tuần phủ quan phòng Phạm Văn Thụ hồi đó. |
Trong lịch sử có lưu tên một vị tướng tài là Bùi Quang Dũng có công với 2 triều nhà Đinh và nhà Lý. Trong một vài tác phẩm của vua Lý Thái Tổ, gần đây các nhà lịch sử đã phát hiện thêm một áng văn bia của vua Lý Thái Tổ ngự đề ở đền thờ vị tướng này.
Bùi Quang Dũng là một danh tướng "khai quốc công thần" thời nhà Đinh ở thế kỷ X. Ông đã có công lớn giúp Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân, hoàn thành sứ mệnh lịch sử: "Thu giang sơn về một mối, thống nhất đất nước, lập nên triều đại nhà Đinh".
Hiện nay, thanh danh về danh tướng này vẫn còn được lưu truyền qua 34 đời dòng tộc. Tuy nhiên, sử sách còn lưu lại rất ít tư liệu về thân thế và sự nghiệp của ông, nhưng công lao tổ chức khai phá, mở mang kinh tế vùng Bố Hải Khẩu (thuộc tỉnh Thái Bình ngày nay) vẫn luôn được nhân dân truyền tụng. Hiện nay rất nhiều nơi trong tỉnh Thái Binh đều lập đền thờ ông là Thành hoàng làng.
Thiên sách thượng tướng Trinh quốc công Bùi Quang Dũng sinh giờ Thìn ngày 10 tháng giêng năm Nhâm Ngọ (tức năm 922) trong một gia đình nông dân nghèo ở đất Phong Châu, Bạch Hạc (Phú Thọ ngày nay). Ông mất vào giờ Dần, ngày 13 tháng 6 năm Mậu Ngọ (1018) năm Thuận Thiên thứ 9 nhà Lý, hưởng thọ 97 tuổi. Sau này các đời vua đều về qua Bố Hải Khẩu thăm và ban sắc phong công nhận công lao, sự nghiệp của ông. Thời vua Lý Thái Tổ tôn hiệu ông là "Minh triết Phu tử" và có áng văn bia "khóc" vị tướng tài này.
Về thời gian phò vua giúp nước, dẹp loạn của tướng Bùi Quang Dũng chia làm những mốc lịch sử chính sau:
Lúc còn nhỏ, ông có tư chất thông minh khác người và rất hiếu thảo với cha mẹ, lễ phép với bề trên, thuận hoà với bè bạn nên được mọi người qúy mến. Ông học rộng, hiểu nhiều, lớn lên trí dũng toàn tài, tinh thông Binh, Nông, Văn, Võ.
.jpg)
Sắc phong triều Nguyễn cho tướng Bùi Quang Dũng còn giữ lại tại đền làng Bùi Xá (Minh Lãng- Vũ Thư- Thái Bình)
Năm 944, Ngô Quyền mất, đất nước lâm cảnh loạn lạc 12 sứ quân, các thế lực phong kiến nổi dậy chiếm giữ từng vùng. Năm 966, Bùi Quang Dũng đã ngoài 40 tuổi, biết ông tài độ thông minh, nhiều sứ quân như Ngô Xương Xí, Kiều Công Hãn, Đỗ Cảnh Thạc đều đến cầu hiền, thuyết phục ông hợp tác nhưng ông đều từ chối. Sử ghi trong lần bạn bè đến chơi hỏi chuyện, ông mới nói thật ý mình: "Thờ vua phải biết chọn người, bây giờ chưa kịp thời, chưa chọn được minh chủ".
Đến năm 967, biết đến một sứ quân rất được lòng ủng hộ của nhân dân, với lực lượng quân sự hùng hậu do tướng Đinh Bộ Lĩnh đứng đầu, lúc này Bùi Quang Dũng đã tìm đến. Cùng với các tướng tài khác như Lê Hoàn, Đinh Điền… Bùi Quang Dũng đã dốc lòng lập chiến công lớn, góp phần hoàn thành sứ mệnh lịch sử giang sơn thu về một mối, thống nhất đất nước, lập lên triều đai nhà Đinh (năm 968, Đinh Bộ Lĩnh chính thức lên ngôi hoàng đế hiệu Đinh Tiên Hoàng, tên nước Đại Cồ Việt, đóng đô ở Hoa Lư). Bùi Quang Dũng được phong chức Anh Dực tướng quân, sung Điện tiền đô chỉ huy sứ kiêm Thiềm sự.
Năm 971, ở xứ Kỳ Bố Hải Khẩu (Thái Bình ngày nay) xảy ra biến loạn. Ngô Văn Kháng con trai Ngô Văn Trấn (tướng hạ cũ của Trần Lãm) khởi binh chống lại triều đình, vua Đinh cử tướng Bùi Quang Dũng đi đánh dẹp. Bằng tài trí uy danh của mình, tướng Bùi đã chinh phục được Ngô Văn Kháng phải đem quân quy hàng.
Vua Đinh phong công cho ông làm Trấn đông Tiết độ sứ, đóng trị sở tại thành Kỳ Bố, kiêm chỉ huy 3 đạo quân thuộc vùng Đông đạo (lúc này nhà Đinh có tất cả 10 đạo quân) và thăng hàm là Đặc tấn Khai quốc thiên sách thượng tướng, tước Tĩnh an hầu. Phong tặng cho thân phụ Bùi Quang Dũng là Khải tá hầu, thân mẫu là Khải tá hầu phu nhân.
Đất nước vừa trải qua loạn lạc, chiến tranh, khi giang sơn yên bình, là người có tầm nhìn xa trông rộng, Bùi Quang Dũng chủ trương: Muốn cho xã tắc vững bền, đi đôi với củng cố xây dựng lực lượng quân sự hùng mạnh phải lập tức khôi phục sản xuất, phát triển kinh tế, giúp dân an cư lập nghiệp, ổn định hậu phương quân đội, thực hiện kế sách "bền gốc sâu rễ".
Thấy vùng phía Tây Bắc thành Kỳ Bố màu mỡ nhưng hoang phế, cỏ dại mọc um tùm, dân thưa thớt, ông tâu sớ xin vua đem quân sĩ khai khẩn lập ấp. Sau đó ông đưa toàn bộ gia quyến từ thành Kỳ Bố về sinh sống và đặt tên cho mảnh đất khai hoang này là ấp Hàm Châu (xã Tân Bình, huyện Vũ Thư ngày nay). Vua Đinh lấy số ruộng đất mới được khai khẩn ấy ban cho ông làm đất ăn lộc gọi là Thái ấp Hàm Châu (ấp vua ban). Ông lại đưa gia đình cùng những thuộc hạ thân tín như Ngô Văn Gia, Đỗ Văn Mục, Đặng Văn Phú… về ở và quản canh cánh đồng (khoảng 500 mẫu). Những cánh đồng ấy đến nay vẫn còn giữ tên gọi cũ như cánh Đồng Gia, cánh Đồng Phú, cánh Đồng Mục (mạ)...
Bùi Quang Dũng tiếp tục cùng quân sỹ khai khẩn vùng đất hoang vu đầy sú vẹt, rắn rết thuộc miền Đông tạo thành các cánh đồng tốt tươi, màu mỡ, chiêu dân và đưa gia đình thân sỹ đến ở, tổng cộng có tất cả 5 làng. Để ghi ơn công đức của ông, dân 5 làng ấy đều xin được gọi là làng Bùi Xá cả. Hiện nay, những làng Bùi Xá ấy vẫn mang tên gọi cũ: thôn Bùi xá (Tân Lễ - Hưng Hà), Thôn Bùi xá (Minh Lãng- Vũ Thư), Bùi Xá (Duyên Hải -Vũ Thư)…Đương thời, nhân dân trong vùng thường có câu ca:
"Mừng nay trong cõi hải tần,
Giặc ma đã dẹp, cá thần cũng xuôi
Vì ai dân được yên vui
Ấy quan thượng tướng họ Bùi phải chăng?"
Công cuộc xây dựng đất nước của nhà Đinh đang tiến hành thuận lợi thì năm Kỷ mão (979) vua Đinh Tiên Hoàng bị sát hại. Nội bộ triều đình xảy ra mâu thuẫn, lục đục. Thái hậu Dương Vân Nga phải trao quyền bính cho Lê Hoàn. Lê Hoàn lên ngôi vua. Bùi Quang Dũng phải đưa toàn bộ gia quyến và tướng hạ thân tín rời Hàm Châu vào thủ điểm tại động Trinh Thạch để giữ trọn lòng trung thành của một khai quốc công thần với Triều đình nhà Đinh.
Sau đó, 30 năm sau (1009) triều Tiền Lê sụp đổ, Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, lập ra triều Lý.
Kỳ sau: Từ "chiếu dời đô" đến bài văn bia còn lại thời Lý.
Yến Chi (tổng hợp)
Số lượt thích:
0 người
 

Các ý kiến mới nhất