Chào mừng quý vị đến với Thư viện tài nguyên dạy học tỉnh Ninh Thuận.
Nhà thơ Lý Bạch

Nguồn: Nguyễn Hùng sưu tầm
Người gửi: Nguyễn Hùng (trang riêng)
Ngày gửi: 11h:45' 06-08-2010
Dung lượng: 24.6 KB
Số lượt tải: 19
Mô tả:
http://phuoctienb.violet.vn/document/create/cat_id/3410018
Lý Bạch sinh năm 701, thời đại được xem là thịnh vượng nhất của chế độ phong kiến Trung Hoa. Nước Trung Hoa lúc này rất rộng, Đông Bắc giáp Cao Li, phía Bắc giáp Tây Bá Lôi Á, Tây Bắc giáp Trung Á, Tây Nam giáp Án Độ.
Theo trong cuốn Văn bia đề trên mộ Lý Hàn Lâm (Lý Bạch) của Phạm Truyền Chính thì cuối đời Tùy, gia đình Lý Bạch đã chuyển sang vùng Trung Á, nay thuộc Liên Xô cũ. Đây mới chính là nơi chôn nhau cắt rún của Lý Bạch, nơi ngôi sao Thái Bạch đã giáng trần.
Đến khi ông được 5 tuổi, gia đình mới dời đến Tứ Xuyên, một tỉnh miền núi, phường Kỷ Tứ Xuyên có nhiều danh lam thắng cảnh như núi Nga Mi, núi Thanh Thành và nhiều hồ lớn. Mẹ mất sớm nên chỉ còn cha.Cha ông và ông đến sống tại làng Thanh liên, huyện Chương Minh tỉnh Tứ Xuyên, thường gọi là đất Thục. Mười bốn tuổi Lý Bạch đã tinh thông sử sách, miệng thốt thành thơ. Mười lăm tuổi ông đã thuộc Bách gia chư tử và các loại kỳ thư nhưng nhất định không ứng thí mà lo học kiếm rồi lên núi cầu Tiên học Đạo.
Tư chất thông minh, say mê nghệ thuật, với tay kiếm địch nổi ngàn người, ông mong sau này trở thành một hiệp khách chân chính, vung kiếm trừ gian cứu vớt thiên hạ khỏi áp bức, lầm than. Niềm đam mê này đã nói lên được hùng tâm, tráng chí của ông từ thời còn rất trẻ.
Khi Lý Bạch được 16 tuổi, kiếm thuật của ông đã nổi tiếng khắp vùng và ông cũng đã đặt dấu chân lên những đỉnh núi cao vút, những hang động bí hiểm thâm sâu, những dòng sông nước cuồn cuộn chảy. Mặc cho bạn bè người thân thúc giục, ông vẫn không thích dấn thân vào con đường danh lợi, luồn cúi để tìm quan chức. Thực là một bực kỳ tài, học hỏi miệt mài, suy nghĩ thấu đáo để mở rộng thành thơ, vung bút tan mây.
Đến 25 tuổi, ông từ giã đất Thục để viễn du khắp đất nước, ông ra đi với hoài bão trong lòng là:ôm ấp tài kinh bang tế thế, dụng văn bút để có thể biến đổi phong tục, dụng tài học cứu vớt được thiên hạ chứ không phải chỉ là mọt sách.Ông thăm Bạch Đế, Mịch La Giang Lăng, Động Đình. Trước bao cảnh đẹp, tâm hồn ông vẫn băn khoăn trước bao bất công của cuộc đời, Người dân thì quá lam lũ lầm than, còn vua quan thì phè phỡn sung sướng lại còn áp bức dân lành.Là một kiếm sĩ, một học sĩ, ta nên vung kiếm dẹp tan loài sâu mọt vì dân mà cứu nàn hay quên đi tất cả, thoát khỏi bụi trần, tìm về với thiên nhiên ? Nhập thế hay xuất thế?
Năm 27 tuổi, ông kết hôn với Hứa thị, cháu của quan tướng quốc Hứa Vũ Sư. Sau đó ông chu du vùng Giang Hạ, Hoàng Hà, Vũ Xương, Lô Sơn, kết bạn với Mạnh Hạo Nhiên Thôi Hiệu, Hạ Tri Chương.
Ông ở Trường An một năm, hiểu rõ thêm cái thối nát của chế độ phong kiến: vua mê sắc, bỏ mặc việc nước cho bọn hoạn quan xu nịnh, coi rẽ nhân tài. Vì sự nghiệp của đất nước mà lắm lo âu, Ông tiếp tục đi Lạc Dương, Trung Sơn, Thái Sơn.ông kết giao với các vị ẩn dật nơi rừng núi và tạo nên nhóm “Trúc Khê Lục dật”. Đó là Lý Bạch, Khổng Sào Phủ, Hàn Chuẩn, Bùi Chính, Trương Thúc Minh, Đào Miện.
Nhóm này coi thường công danh phú quí vì muốn tự mình tu tĩnh để tìm cho ra phương thuốc hay cứu đời.Cầu Tiên học Đạo là một dấu ấn đặc biệt trong đời Lý Bạch và ảnh hưởng đến thơ văn của ông rất nhiều.Ông theo Đạo giáo không phải để trốn tránh thực tại mà vì thích lối sống phóng khoáng, tự do thoát khỏi sự trói buộc của chế độ thời đó.
Sau khi sanh thêm một con trai, Hứa thị bị bệnh và mất . Ông gởi con cho người thân nuôi dưỡng và trở lại Trường An. Ngô Quân tiến cử ông cùng vua Đường Huyền Tôn với lời khen ngợi : “Đây là con người danh lừng vũ trụ, thông đạt cổ kim, văn võ toàn tài, lý tình đầy đủ. Nhà vua được người này khác gì nhà Hán được Trương Tử Phòng”
Ông làm việc trong Hàn Lâm Viện, giúp vua đọc phiên thư của sứ Cao Ly mà không ai trong triều đọc được. Thế nhưng trong triều chỉ đầy bọn nịnh thần trong khi dân bên ngoài đói chỉ còn da bọc xương, nên ông tỏ nhiều thái độ bất mãn, chán ngán. Nghe lời dèm xiểm của Cao Lực Sĩ, vua Huyền Tôn giải chức ông ban tặng phẩm vật cho về quê. Ông lại tiếp tục sống đời phiêu lãng ngao du sơn thuỷ.
Lý Bạch đến Lạc Dương, kết bạn cùng Cao Thích và Đỗ Phủ mà trước đó Hạ Tri Chương đã giới thiệu với Đỗ Phủ: Lý Bạch là “Thiên Thượng Trích Tiên nhân.” Thơ Tiên gặp Thơ Thánh, Lý Bạch và Đỗ Phủ rất thân thiết và quí trọng nhau
Năm 756, An Lộc Sơn làm phản, đem hơn 15 vạn quân từ U Châu về Hàm Dương, chiếm Lạc Dương, kéo quân về Trường An và biến Trường An thành tro bụi trong khói lửa.
Đường Huyền Tôn có hai hoàng tử: Túc Tôn là con thứ 14, Lý Lân là con thứ 18, cả hai tổ chức chống giặc ở hai nơi. Lý Lân khẩn khoản mời Lý Bạch làm quân sư “ta mong được đón người hiền như đại hạn lâu ngày mong mưa”.Trước tấm thạnh tình của Lý Lân, trước cảnh muôn dân bị chém giết, máu chảy đầy đường, xương chất thành đống, ông nhận lời. Thanh thế của Vĩnh Vương Lý Lân ngày càng lớn. Đường Túc Tôn sợ Vĩnh Vướng thắng được An Lộc Sơn sẽ cướp ngai vàng nên vội triệt hạ. Lý Bạch bị bắt và bị đày đến vùng sơn lam chướng khí tận miền Tây Nam Trung Hoa.
Năm 758 Túc Tôn lên ngôi, đại xá thiên hạ. Lý Bạch được tha.
Năm 760, Lý Bạch trở lại Động Đình, lòng buồn vì chí cao mà không đạt. Vào năm 762, ông mất tại Từ Châu.
Tay kiếm tay đàn nhà thơ Lý Bạch đã trở về với không gian vô tận, hay theo như lời đồn là ông đã xuống nước ôm trăng đi mãi mãi. Tại bến Thái Thạch thuộc Kim Lăng có lập đền thờ gọi là đền thờ Lý Trích Tiên. Lý Bạch để lại hàng ngàn tác phẩm và lý tưởng tranh đấu cho công bằng, tự do.
Lý Bạch, Đỗ Phủ và một số thi sĩ khác đã có công vạch ra một con đường mới cho thi ca Trung Hoa, làm cho thi văn trở nên rõ ràng, có qui tắc (Đường luật), ảnh hưởng lâu dài đến các thế hệ sau và lan rộng ra các nước phụ cận như Việt Nam, Nhật Bổn, Đại Hàn.
Dùng văn chương có triết lý, đạo lý; trong văn thơ lại có nhạc, có tình, có cả thiên nhiên.Tính tích cực nhập thế của ông bắt nguồn từ lòng yêu nước muốn cứu giúp chúng sanh bằng tài năng và trí tuệ của mình.Tuy không chịu ra thi cử nhưng ông vẫn để Ngô Quân tiến cử là vì lẽ đó.Để rồi cuối cùng có tài mà tài không được dùng,muốn ra giúp đời mà buộc phải nhìn đời như giấc mộng,ông đã mượn rượu và thơ để quên đi nỗi thống khổ của mình, đồng thời giúp người đời nhận biết cõi đời là phù du giả tạm, danh lợi là nguồn gốc sanh đại loạn. Ông tiếp thu tinh thần tích cực nhập thế của Nho gia để giúp nước, cứu đời và tinh thần tự do, bay bổng, yêu thiên nhiên, khinh thường công danh phú quý của Đạo gia, cùng với tinh thần khẳng khái nghĩa hiệp của một trang kiếm khách.
Đại bàng vút bay lay tám cõi.
Giữa trời cánh gãy sức kiệt dần
Hơi gió còn chuyển rung vạn thế.
“Lý Bạch đã đi vào cõi bất tử nhưng sao Thái Bạch vẫn mãi mãi sáng ngời trên bầu trời xanh thẳm”.
Thật vậy, từ khi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay Đạo Cao Đài ra đời, chúng ta mới có dịp biết đến Đức Lý Thái Bạch, một trong Tam Trấn Oai Nghiêm, đã giáng bút phổ độ chúng sanh từ lúc ban sơ và chỉ vẽ từng chi tiết trong kiến trúc xây dựng Toà Thánh Tây Ninh. Công đức của Ngài thật cao cả, to lớn không thể dùng bút mực tả hết thành lời.
Tuy nhiên, chúng ta cần biết rằng những người tín đồ Cao Đài đã thờ chơn linh của Lý Bạch làm Giáo Tông Đạo Cao Đài chứ không thờ thi hào Lý Bạch. Lý Bạch chỉ là một trong những kiếp mà Ngài đã xuống thế gian này. Chơn linh Lý Bạch là một khối thần lực của Thượng Đế từ tạo Thiên lập Địa đã có. Chính Ngài đã giáng cơ cho biết.
Ánh Thái Cực biến sanh Thái Bạch
Hiện Kim Tinh trọng trách Linh Tiêu
Quyền năng vựng thửa Thiên triều.
Càn Khôn Thế Giới dắt dìu tinh quân.
Thái là rất lớn, Bạch là sắc trắng, sáng sủa. Vậy chúng ta có thể hiểu: nguyên căn của Ngài bắt nguồn từ khối đại linh quang (Ngôi Thái Cực) đã biến sanh ra một khối năng lượng sáng trắng vô cùng.Lúc khởi thuỷ của vũ trụ, Ngài không có danh xưng nhưng quyền năng to tát. Trải qua không biết bao nhiêu thời gian cho đến lúc :
Tinh quân thọ sắc thuở Phong Thần.
Cho đến Đường triều mới biến thân
Thái Bạch Kim Tinh đang trị thế
Trường Canh trích tử đến thăm trần.
Ngày nay, chúng ta tôn kính Ngài qua danh xưng trong một kiếp xuống trần tên là Lý Bạch, một thi sĩ nổi tiếng trong nền văn học Trung Quốc đời nhà Đường. Chúng ta mượn tên kiếp này của Ngài để tôn thờ một quyền năng thiêng liêng cao trọng với danh hiệu. “Lý Đại Tiên Trưởng Kiêm Giáo Tông Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.”
Tại sao trong Đạo Cao Đài lại thờ Tam Trấn? Đức Lý Thái Bạch là một, còn hai người nữa là ai ?
Tại vì đến thời kỳ chuyển thế Tam Giáo qui nguyên phục nhứt, Đức Thượng Đế chọn ba vị tiêu biểu cho Phật, Tiên, Thánh thay mặt Tam Giáo để cầm quyền Phổ Độ, dạy dỗ chúng sanh.Ba vị Tam Trấn đức hạnh hoàn toàn, đủ tư cách độ đời, nêu gương cho đoàn hậu tấn.
Đó là:
- Đức Lý Đại Tiên
- Đức Quán Thế Âm Bồ Tát
- Đức Quan Thánh Đế quân
Các ý kiến mới nhất